Chủ Nhật, 5 tháng 2, 2012

Nỗi nhớ

   Việt Nam nằm ở miền nhiệt đới, có rất nhiều sông hồ...Sông Cửu Long chín nhánh sum xuê dừa đước, chở nặng phù xa bồi đắp trù phú cho miền đồng bằng với những miệt vườn chĩu cành hoa trái. Sông Mã oai hùng với những thác nghềnh hiểm trở tạo niềm đam mê khám phá cho các nhà nghiên cứu và du lịch. Sông Danh, sông Bến Hải mang nặng dấu ấn lịch sử bi hùng của một thời phân chia Nam Bắc. Có con sông lại lắng đọng trong lòng mỗi người bởi những vần thơ ngọt ngào, bởi những nhịp hò mái đẩy rất Hương Giang khiến cho ai đã đến thì không thể quên.
  Tôi cũng được nuôi dưỡng và lớn lên bên một dòng sông...  Lục Đầu Giang  sáu nhánh  nhưng phần lớn làng  tôi lại bám theo mép nước sông Thương. Sông Thương chở nặng phù xa nhưng rất lạ lại chia thành hai dòng trong và đục:
                                Sông Thương dù  có chia hai dòng trong và đục
                                Người bến sông này có... Ngạn đục lắng trong
                                Ai ơi ! nếu đã nặng lòng 
                                Cau trầu...dù  xanh mướt...Muốn mặn nồng...Phải có vôi
 Những câu hò của cánh chân sào đò dọc được gió  nam đưa đẩy cứ len lỏi, lẩn khuất đâu đó qua rặng tre bến sông làm bao cô gái làng sao xuyến. Vẫn bến sông chiều phẳng lặng, vẫn tà áo nâu non với má thắm môi đào mà sao dòng sông Thương như được câu hò chău chuốt cứ ánh lên, dậy hương với vị mặn nồng không thể lẫn.
 Sông Thương không chỉ làm lên cảnh đẹp mà sông còn mang  tôm cá nuôi sống con người, mang phù xa mầu mỡ đắp bồi  trù phú một làng quê bến nước.
 Có những tháng sông cũng lao sao sóng , hay giận hờn hung giữ đến điên cuồng. Đó là sau những ngày hè oi ả tiếp đến những cơn mưa sầm sập phía đầu nguồn, nước từ năm con sông ầm ầm đổ về nhấn chìm cả làng trong làn nước phù xa mênh mông đỏ ối . Một làng ven sông trù phú chỉ còn lập lờ mấy ngọn tre và khu đất cao giữa làng đang oằn mình gánh chịu những bồ thóc lúa, chăn màn của cả làng... Kiến, chuột, lợn gà chen chúc cùng đám trẻ con nô đùa không thể làm khuất đi dáng những cụ già nhóp nhép nhai trầu,  ôm tay ngồi bó gối nhìn dòng nước.
 Lũ về mang theo cơ man những bè tre, gỗ bị vỡ mảng từ phía thượng nguồn lao băng băng theo sóng lũ, ngọn sóng thúc vào nhau tại Lục Đầu cứ réo lên ùng ục. Mỗi một con sóng khi bị dòng kia ngăn cản đều tạo thành một dòng xoáy. Con nước hung dữ nhất vẫn là con lũ từ sông Trũ, nó lao qua sông Thương đổ thẳng vào Lục Đầu Giang, hợp nhất năm con xoáy của năm sông thành một con xoáy lớn, đường kính của nó khoảng hai mét, xoáy theo hình trụ đứng: xuất phát từ đáy sông thẳng lên mặt nước với tiếng hút nước chùn chụt nghe rợn người.  Cái nguy hiểm của con xoáy này là không đứng yên một chỗ , nó di chuyển vòng tròn quanh làng ba bốn vòng theo chiều kim đồng hồ với đường kính khoảng một km, tịnh tiến dần về tâm Lục Đầu ở phía cuối làng, tại đây: tất cả những gì trôi theo dòng lũ như thuyền bè,  tre, ngỗ và những cây to nguyên cả rễ cành đều bị lỗ xoáy dựng đứng rồi nuốt chửng, bị vò sé, quăng quật ở hườm đá dưới đáy sông đến tan tành mới ném những mảnh vụn đi thật xa. Khi đã hoàn thành sứ mệnh, lỗ xoáy  biến mất, một lỗ xoáy khác lập tức suất hiện phía thượng nguồn, lại xoay tròn, tịnh tiến dần vào tâm thành một chu trình lặp đi lặp lại.
 Trôi về ký ức tuổi thơ, tôi thấm thía câu : “ Sống trong cát, chết vùi trong cát”, dòng Lục Đầu đã cho dân làng tôi rất nhiều nhưng cũng để lại nỗi hãi hùng không ít. Những vụ sập cạm, hàng trăm lưỡi câu quấn quanh mình, khi vớt lên  con mắt người chết vẫn mở trừng trừng với thân hình co quắp rất thương tâm. Rồi khi lũ về, bọn đàn ông trai kiện bất chấp nguy hiểm lao vào dòng lũ vớt gỗ để thể hiện tính quật cường chinh phục dòng lũ của người sông nước, vừa mong kiếm chút tiền dắt lưng làm vốn sinh nhai.
 Trong dòng lũ, những bè gỗ nặng nề trôi chầm chậm còn những mảng nứa nổi hơn thì trôi băng băng. Muốn vớt được chúng, người vớt phải bơi xuôi theo dòng nước đuổi theo bè gỗ, lựa thế tránh những mảng phía sau đâm tới rồi đu mình lên, lái bè về mỏm đất nổi giữa làng. Công việc tưởng thật rễ ràng nếu tuân thủ hai điều: Chú ý mảng nứa phía sau đâm tới khi đang dùng hai tay dựng đứng người trèo lên bè,  và không được nhầm lẫn khi bè đã xoay đủ hai vòng quanh làng. Nếu lúc đó không lái được, dù “của trời”Có lớn đến đâu cũng phải bỏ mà bơi vào vì  vòng thứ ba, bán kính của vòng xoáy đến gần tâm có lực hút rất mạnh, lúc đó có nhẩy xuống bơi vào cũng chưa có ai thoát khỏi cái chết mất thây.
 Từ xa sưa, đứa trẻ cũng biết đến điều cấn kỵ này, nhưng  mùa lũ vẫn có người bất cẩn bị mảng nứa phía sau đâm xuyên thấu qua lưng, chết đứng trôi theo vòng xoáy, mất xác giữa tiếng gào thét bất lực của người thân và dân làng.
 Có một điều lạ là ngay sát tâm của lỗ xoáy hơn trăm mét là đền thờ thần Trương Hát, sau vụ lụt ngôi đình hầu như còn nguyên vẹn. Nước rút, dân làng kéo nhau ra cào bùn, tô tượng, sửa sang những phần hư hại chuẩn bị cho mùa lễ hội năm sau.
 Khi có chính sách di dân, làng cũ không còn ai ở, ngôi đền không tu sửa cứ bị hoang phế  sau mỗi trận lụt và lâu dần gạch ngói bị lũ cuốn trôi. Đã có thư của các bậc bô lão xa sứ kêu gọi xây dựng lại đền nhưng đầu năm 2012 tôi về thắp hương vẫn chỉ chỉ thấy một gôi miếu nhỏ lộ thiên giữa nền móng cũ. Cảnh vật xung quanh cô quạnh đến hoang vu.
                                     
                                                                      12/1/2012




Nỗi nhớ

   Việt Nam nằm ở miền nhiệt đới, có rất nhiều sông hồ...Sông Cửu Long chín nhánh sum xuê dừa đước, chở nặng phù xa bồi đắp trù phú cho miền đồng bằng với những miệt vườn chĩu cành hoa trái. Sông Mã oai hùng với những thác nghềnh hiểm trở tạo niềm đam mê khám phá cho các nhà nghiên cứu và du lịch. Sông Danh, sông Bến Hải mang nặng dấu ấn lịch sử bi hùng của một thời phân chia Nam Bắc. Có con sông lại lắng đọng trong lòng mỗi người bởi những vần thơ ngọt ngào, bởi những nhịp hò mái đẩy rất Hương Giang khiến cho ai đã đến thì không thể quên.
  Tôi cũng được nuôi dưỡng và lớn lên bên một dòng sông...  Lục Đầu Giang  sáu nhánh  nhưng phần lớn làng  tôi lại bám theo mép nước sông Thương. Sông Thương chở nặng phù xa nhưng rất lạ lại chia thành hai dòng trong và đục:
                                Sông Thương dù  có chia hai dòng trong và đục
                                Người bến sông này có... Ngạn đục lắng trong
                                Ai ơi ! nếu đã nặng lòng 
                                Cau trầu...dù  xanh mướt...Muốn mặn nồng...Phải có vôi
 Những câu hò của cánh chân sào đò dọc được gió  nam đưa đẩy cứ len lỏi, lẩn khuất đâu đó qua rặng tre bến sông làm bao cô gái làng sao xuyến. Vẫn bến sông chiều phẳng lặng, vẫn tà áo nâu non với má thắm môi đào mà sao dòng sông Thương như được câu hò chău chuốt cứ ánh lên, dậy hương với vị mặn nồng không thể lẫn.
 Sông Thương không chỉ làm lên cảnh đẹp mà sông còn mang  tôm cá nuôi sống con người, mang phù xa mầu mỡ đắp bồi  trù phú một làng quê bến nước.
 Có những tháng sông cũng lao sao sóng , hay giận hờn hung giữ đến điên cuồng. Đó là sau những ngày hè oi ả tiếp đến những cơn mưa sầm sập phía đầu nguồn, nước từ năm con sông ầm ầm đổ về nhấn chìm cả làng trong làn nước phù xa mênh mông đỏ ối . Một làng ven sông trù phú chỉ còn lập lờ mấy ngọn tre và khu đất cao giữa làng đang oằn mình gánh chịu những bồ thóc lúa, chăn màn của cả làng... Kiến, chuột, lợn gà chen chúc cùng đám trẻ con nô đùa không thể làm khuất đi dáng những cụ già nhóp nhép nhai trầu,  ôm tay ngồi bó gối nhìn dòng nước.
 Lũ về mang theo cơ man những bè tre, gỗ bị vỡ mảng từ phía thượng nguồn lao băng băng theo sóng lũ, ngọn sóng thúc vào nhau tại Lục Đầu cứ réo lên ùng ục. Mỗi một con sóng khi bị dòng kia ngăn cản đều tạo thành một dòng xoáy. Con nước hung dữ nhất vẫn là con lũ từ sông Trũ, nó lao qua sông Thương đổ thẳng vào Lục Đầu Giang, hợp nhất năm con xoáy của năm sông thành một con xoáy lớn, đường kính của nó khoảng hai mét, xoáy theo hình trụ đứng: xuất phát từ đáy sông thẳng lên mặt nước với tiếng hút nước chùn chụt nghe rợn người.  Cái nguy hiểm của con xoáy này là không đứng yên một chỗ , nó di chuyển vòng tròn quanh làng ba bốn vòng theo chiều kim đồng hồ với đường kính khoảng một km, tịnh tiến dần về tâm Lục Đầu ở phía cuối làng, tại đây: tất cả những gì trôi theo dòng lũ như thuyền bè,  tre, ngỗ và những cây to nguyên cả rễ cành đều bị lỗ xoáy dựng đứng rồi nuốt chửng, bị vò sé, quăng quật ở hườm đá dưới đáy sông đến tan tành mới ném những mảnh vụn đi thật xa. Khi đã hoàn thành sứ mệnh, lỗ xoáy  biến mất, một lỗ xoáy khác lập tức suất hiện phía thượng nguồn, lại xoay tròn, tịnh tiến dần vào tâm thành một chu trình lặp đi lặp lại.
 Trôi về ký ức tuổi thơ, tôi thấm thía câu : “ Sống trong cát, chết vùi trong cát”, dòng Lục Đầu đã cho dân làng tôi rất nhiều nhưng cũng để lại nỗi hãi hùng không ít. Những vụ sập cạm, hàng trăm lưỡi câu quấn quanh mình, khi vớt lên  con mắt người chết vẫn mở trừng trừng với thân hình co quắp rất thương tâm. Rồi khi lũ về, bọn đàn ông trai kiện bất chấp nguy hiểm lao vào dòng lũ vớt gỗ để thể hiện tính quật cường chinh phục dòng lũ của người sông nước, vừa mong kiếm chút tiền dắt lưng làm vốn sinh nhai.
 Trong dòng lũ, những bè gỗ nặng nề trôi chầm chậm còn những mảng nứa nổi hơn thì trôi băng băng. Muốn vớt được chúng, người vớt phải bơi xuôi theo dòng nước đuổi theo bè gỗ, lựa thế tránh những mảng phía sau đâm tới rồi đu mình lên, lái bè về mỏm đất nổi giữa làng. Công việc tưởng thật rễ ràng nếu tuân thủ hai điều: Chú ý mảng nứa phía sau đâm tới khi đang dùng hai tay dựng đứng người trèo lên bè,  và không được nhầm lẫn khi bè đã xoay đủ hai vòng quanh làng. Nếu lúc đó không lái được, dù “của trời”Có lớn đến đâu cũng phải bỏ mà bơi vào vì  vòng thứ ba, bán kính của vòng xoáy đến gần tâm có lực hút rất mạnh, lúc đó có nhẩy xuống bơi vào cũng chưa có ai thoát khỏi cái chết mất thây.
 Từ xa sưa, đứa trẻ cũng biết đến điều cấn kỵ này, nhưng  mùa lũ vẫn có người bất cẩn bị mảng nứa phía sau đâm xuyên thấu qua lưng, chết đứng trôi theo vòng xoáy, mất xác giữa tiếng gào thét bất lực của người thân và dân làng.
 Có một điều lạ là ngay sát tâm của lỗ xoáy hơn trăm mét là đền thờ thần Trương Hát, sau vụ lụt ngôi đình hầu như còn nguyên vẹn. Nước rút, dân làng kéo nhau ra cào bùn, tô tượng, sửa sang những phần hư hại chuẩn bị cho mùa lễ hội năm sau.
 Khi có chính sách di dân, làng cũ không còn ai ở, ngôi đền không tu sửa cứ bị hoang phế  sau mỗi trận lụt và lâu dần gạch ngói bị lũ cuốn trôi. Đã có thư của các bậc bô lão xa sứ kêu gọi xây dựng lại đền nhưng đầu năm 2012 tôi về thắp hương vẫn chỉ chỉ thấy một gôi miếu nhỏ lộ thiên giữa nền móng cũ. Cảnh vật xung quanh cô quạnh đến hoang vu.
                                     
                                                                      12/1/2012




 Xin chào anh Nhã
          Chúc mừng anh gia nhập xóm TRIAN .  Tôi  rất mừng vì nhóm Tri ân Chí Linh thêm một thành viên mới,
   mong anh sớm tìm được tiếng cười, sự sẻ chia mỗi sớm mai thức dậy.
          Xin hãy liên hệ với Tô Quang qua số điện thoại: 0908187513.
          Năn mới , Chúc anh thêm nhiều niềm vui mới !        

Thứ Năm, 26 tháng 1, 2012

                            NHỚ !

Tất cả đèn đường thắp sáng đêm nay *
Xanh thẫm hàng cây tưng bừng quán xá
Chỉ một mình em giữa ảo huyền xa lạ
Em ở đâu trong tuyết trắng đêm nay

Em ở đâu trong tuyết trắng đêm nay
Em gọi ai dọc bờ sông mây
Lời em khan ngược chiều tuyết bụi
Bước chân mồ côi trái tim tha thủi

Cứ ước ao Đà Lạt nửa vầng trăng
Nửa vầng trăng trên trời phiêu dạt
Thác dội Cam Ly có lần em đã hát
Như thơ anh thường khắc khoải đi tìm

Chưa một lần được hò hẹn cùng em
Đã được cầm tay sánh vai dạo phố
Đà Lạt, Sài Gòn đã quen đã ở
Nhớ cánh tay mềm thân thuộc cả hương hoa

Biết thế nào cũng nhớ lắm khi xa
Kỷ niệm không quên là những đêm không ngủ
Là Đà Lạt đượm nồng hương ấp ủ
Là tình yêu đợi em cuối con đường

*( Ở NÔNG THÔN NỮNG NGÀY TẾT MỚI THẮP SÁNG ĐỀN ĐƯỜNG )

                                      01 tết nguyên đán 2009

Thứ Bảy, 14 tháng 1, 2012

Hoa cỏ may

Chiều thu nào trên đê
Hoàng hôn về nhạt nắng
                                         Nước sông chiều phẳng lặng
                                         Hoa cỏ may đam mê
                     Đi xa vẫn vẫn nhớ về
                    Biết bao nhiêu kỷ niệm
                    Lòng tràn đầy lưu luyến
                    Nhớ nhũng chiều ven đê
                                        Hai đứa mình say mê
                                        Thì thầm bên hoa cỏ
                                        Em thẹn thùng má đỏ
                                        Bất chợt anh nắm tay
                     Đôi mắt nhìn thơ gây
                     Ngước nhìn anh bối rối
                     Nhẹ nhàng em bước vội
                     Tóc nhung dài hương bay
                                      Thơ thẩn giữa chiều nay
                                      Tôi về thăm chốn cũ
                                    Bao nỗi niềm ấp ủ
                                    Tím gắt miềm cỏ may
                   Khắc khoải lòng  như say        
                   Nắng chiều nghiêng vạt cỏ
                   Vần thơ ai viết dở
                   Hương cỏ may dâng đầy

                                                27-3-2003
                    
Hoa cỏ may

Chiều thu nào trên đê
Hoàng hôn về nhạt nắng
                                         Nước sông chiều phẳng lặng
                                         Hoa cỏ may đam mê
                     Đi xa vẫn vẫn nhớ về
                    Biết bao nhiêu kỷ niệm
                    Lòng tràn đầy lưu luyến
                    Nhớ nhũng chiều ven đê
                                        Hai đứa mình say mê
                                        Thì thầm bên hoa cỏ
                                        Em thẹn thùng má đỏ
                                        Bất chợt anh nắm tay
                     Đôi mắt nhìn thơ gây
                     Ngước nhìn anh bối rối
                     Nhẹ nhàng em bước vội
                     Tóc nhung dài hương bay
                                      Thơ thẩn giữa chiều nay
                                      Tôi về thăm chốn cũ
                                    Bao nỗi niềm ấp ủ
                                    Tím gắt miềm cỏ may
                   Khắc khoải lòng  như say        
                   Nắng chiều nghiêng vạt cỏ
                   Vần thơ ai viết dở
                   Hương cỏ may dâng đầy

                                                27-3-2003
                    

Thứ Hai, 9 tháng 1, 2012

                                  NỖI  NHỚ !


Tôi cất tiếng khóc chào đời ở một ngôi làng bên một dòng sông. Hay nói chính sác hơn là được sinh ra ở làng Phượng Nhỡn nằm bên dòng Lục Đầu Giang, nơi hội nguồn năm con sông hợp lại chảy xuôi về Phả Lại.
       Làng Phượng Nhỡn hay còn ngọi là Phượng Nhãn là một địa danh rất nổi tiếng của nhiều thế kỷ trước, nó là  nơi duy  nhất để dàn tuyến phòng thủ, tập kết quân lương của bọn người phương bắc tràn xuống chuẩn bị vượt sông đánh chiếm Thăng Long. Còn ông cha ta  muốn đập tan âm mưu sâm lược của địch cũng phải tìm cách vượt sông, đánh chiếm lấy căn cứ nổi giữa đồng chiêm chũng gập nước này.
       Kỷ niệm về quê hương  tuổi ấu thơ của tôi thật đẹp nhưng cũng rất hãi hùng... Những buổi lộng gió được theo các anh chị ra bờ sông thả diều hay ăn trộm bí đỏ ở bãi bồi cuối làng,  ăn trộm không phải để dùng mà chỉ đơn giản làm thuyền. Quả bí được phạt đi nửa non đủ chở một đứa ngồi trong đó, bọn còn lại bám chung quanh tha hồ vùng vẫy , bơi lội.
Đặc trưng của các làng bên sông là nhà nào cũng có một bến tắm riêng, và một trong những bến đó được gọi là bến làng bởi bến đó rộng hơn, bờ có độ dốc thoải hơn và dưới lòng sông nhiều  cát hơn, có lẽ vì thế lên người nghánh nước, người tắm đông hơn.  Chẳng biết tự lúc nào tôi đã thuộc câu thơ:“ Hỡi con sông đã tắm cả đời tôi...”với tất tấm tình. Đúng vậy, những ai nhà ở bên sông  mới biết hết cái thú tắm sông. Những ngày hè  oi bức không một làn gió, không một gợn mây,  hàng tre mệt mỏi xóa tóc đứng im lìm bên bến,  thế mà chiều về lại lao sao hát lời du cùng làn gió nam hây hẩy, dòng sông phản chiếu nắng chiều cứ ánh lên, dát đầy những vảy vàng, vảy bạc. Bến làng đầy ắp tiếng nói cười, tiếng té nước khi được vùng vẫy với sông, tiếng vỗ quần áo bồm bộp tạo lên một không gian rất riêng của vùng bến nước
 Quê tôi có mùa nước sớm bởi những trận mưa to vào trung  tuần  tháng năm hay cuối tháng năm ( âm lịch ) mà người dân vùng chiêm chũng gọi là “nước cá đẻ”  ngập sấp xếnh các bãi nghể quang làng, từng đàn cá dưng, cá diếc…theo con nước tràn lên bãi để đẻ. ầm ỹ nhất vẫn là những đàn cá gáy, trong cơn “si tình”chúng lao  lên những vùng nước cạn hở cả vây, lượn vòng, cắn nhau vật đuôi tung tóe nước. Có đàn đông hơn chục con. Không cần dụng cụ, những người “sát cá”dùng tay cũng bắt được chúng. Mùa nước cá đẻ,  bếp nhà nào cũng thơm lừng bởi các món rán hay rim với tương từ cá. Thời gian này, dân quê tôi tất bật chạy đua với thời gian không kẻ ngày đêm để thu hoạch hoa mầu ngoài đồng, bởi cuối con nước cá đẻ là lũ tràn về. Dòng lũ của năm con sông hợp lại thật ghê gớm. Nhưng mạnh nhất, hung dữ nhất vẫn là con lũ từ Trũ tràn về, đỏ quạch phù xa, dòng lũ réo lên ùng ục,  cuốn theo cả cây rừng, những bè ngỗ, nứa bị vỡ mảng
từ phía thượng nguồn. Tiếng trống, tiếng mõ, tiếng kêu ý ới dường như càng làm nước dềnh lên nhanh hơn. Tất cả đều bị chìm dần trong nước...Chỉ còn những đám rác, đám bèo là nổi cứ xoay tròn theo xoáy nước mà trên đó bám cơ man kiến và chuột. Một làng ven sông trù phú, xanh mướt những vườn chuối rặng tre... Tất cả đều bị nước nhấn chìm ...
       Tôi xa quê  không phải như câu thơ: “ Chúng tôi lớn lên mỗi người một ngả.../ Kẻ sớm hôm cày cuốc ngoài đồng/ Tôi cầm súng xa nhà đi kháng chiến”. Mà là di cư theo lệnh của nhà nước. Di dân cả làng.
       Giờ đây, sống bình yên trong góc núi,  không còn sợ cảnh hãi hùng mỗi khi lũ về. Các con  đều đã khôn lớn trưởng thành nhưng lòng tôi khôn nguôi nhớ về nơi chôn rau cắt rốn lên mỗi khi có dịp, tôi thường dắt các con về lại chốn sưa, dầu cho làng cũ bây giờ chỉ còn là dải đất chạy dài ven sông, không một mái nhà, không một bóng cây,  để chỉ cho chúng biết đây là đâu?
 Đứng trước dòng sông với lòng khắc khoải, cứ định đưa hai tay lên mồm làm loa để được ngọi to hai tiếng ...Đò ơi !

                                             Tháng 11 năm 2011